PHẬT PHÁP NHIỆM MÀU

 

PHẬT PHÁP NHIỆM MÀU 

TAMLINHVIET


Phật pháp nhiệm mầu vô cùng, là thuốc đặc trị cho tất cả bệnh khổ của thế gian. Từ bệnh tật, nghèo đói cho đến thân tâm không an, bế tắc tột cùng…chẳng bệnh nào là không có thuốc đặc trị.
Tuệ Tâm thủa mới mon men vào đường đạo, thấy cổ nhân nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe, sanh tử khó giải quyết xong”, thường vẫn nghi ngờ cho là chẳng phải. Về sau thấm nhuần Phật pháp rồi, tĩnh tâm nhìn thế cuộc phù vân, mới chịu là lời cổ nhân nói chẳng sai.

Thời ngũ trược ác thế, kinh sách tuy nhiều nhưng hiếm người tìm đọc. Người biết Phật pháp tuy đông, nhưng ít kẻ chân thật tu trì. Thành ra số người được nếm vị thanh lương của giải thoát của Như Lai chẳng được bao nhiêu. Suốt một đời người chẳng lúc nào bình an, một mai vô thường đến, chẳng biết sẽ lạc vào đâu trong sáu nẻo luân hồi, thật vô cùng đáng tiếc!

*

Nay xin chép lại những chuyện Phật pháp nhiệm mầu. Nguyện người đọc hữu duyên thấu cảm rằng: Chúng ta vô thỉ kiếp đến nay trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, không thân nào chưa từng mang, không khổ nào chưa từng nếm và không cõi giới nào chưa từng trải qua. Từ đó mà phát tâm học Phật, niệm Phật, cùng nương nơi Bản nguyện của đức Phật A Di Đà, vãng sanh Tây phương Cực lạc quốc, vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Không nói dối là một trong năm trọng giới của Phật pháp và những câu chuyện ” Phật pháp nhiệm mầu có thật” dưới đây, đều do các cữ sĩ trì giới tinh nghiêm kể lại. Nếu bạn có không tin cũng xin chớ sanh tâm hủy báng mà mang tội!

Phật pháp nhiệm mầu

Lần đầu gặp, tôi thấy Mã huynh đang phóng sinh chim trong Niệm Phật Đường cùng với một pháp hữu khác.

Mã huynh hiện nay hơn 40 tuổi, là một đại hán Sơn Đông điển hình. Tướng mạo giống như nhân vật Võ Tòng đánh hổ trong truyện Thủy Hử. Ông mày rậm mắt to, vóc dáng cường tráng, tính cách hào sảng. Giọng nói như chuông ngân, nội lực mạnh mẽ, nhìn rất oai phong, khí thế.

Câu chuyện tu hành của Ông huynh cũng lắt léo, ly kỳ. Có thể dùng câu “lãng tử hồi đầu” để mô tả, một câu chuyện ” Phật pháp nhiệm mầu” điển hình. Ông luyện võ từ nhỏ, sau đó đi lính, thân thể rất vạm vỡ, khang kiện. Sau khi giải ngũ, ông ở nhà. Khi luyện võ có một số anh em tới tìm, dần dần lập thành một băng nhóm xã hội đen. Huyện Hoàn Đài nổi danh là nơi ăn chơi, có nhiều vũ trường, nhà hát, quán bar, thanh lâu. Hễ nơi nào các dạng ăn chơi, đấu đá phát triển, thì thế lực xã hội đen càng mạnh.

Ông trùm xã hội đen hồi đầu

Mã huynh rất giỏi võ lại thông minh khôn khéo. Sau nhiều lần tỉ thí, ông nhanh chóng đạt được “vương vị” và nổi danh trong giới xã hội đen. Ông tự lập đảng phái, làm trùm một cõi, thế lực ngày càng mạnh. Lại có đệ tử, thuộc hạ rất nhiều, thập phần oai phong dũng mãnh.

Một ngày vào năm 2003, ông đến phố Đại Tập, huyện Hoàn Đài dạo chơi. Tình cờ nhìn thấy một ông già bán tượng Quán Âm, ông vừa dòm lòng đã rất hoan hỉ. Thế là ông lại gần hỏi giá, ai dè tới 180 đồng! ông thấy mắc quá nên bỏ đi.

Một tháng sau khi dạo chơi tiếp ông cũng gặp lão già đó. Lần này lão hạ giá xuống còn 100 đồng, ông vẫn thấy mắc, nên không chịu mua. Bản thân là trùm giang hồ, nắm quyền sinh sát trong tay. Theo bình thường nếu thích thì ông đã cưỡng đoạt từ lâu rồi. Nhưng đây là tượng Quán Âm, nên ông không dám giở thói giang hồ ngông nghênh. Qua nửa tháng sau, ông đi chơi, lại gặp ông già ấy nữa. Thấy tượng Quan Âm vẫn chưa bán đi. Lần này không đợi ông hỏi, lão già tự động mở lời:

– Ngó bộ tượng Phật này và ông có duyên dữ a. Thôi thì lão chỉ tính giá 60 đồng, xem như vừa bán vừa tặng đó nha!

Nghe vậy ông liền móc tiền ra trả rồi đem tượng về nhà, sau đó ngồi ngắm tới ngắm lui, lòng rất hoan hỉ.

Quán Thế Âm Bồ Tát phóng quang

Một tối nọ, sau khi nhậu say bí tỉ, về tới nhà là ông lăn ra đánh giấc. Khoảng 4 giờ sáng thức dậy uống nước, thấy tượng Quan Âm trên bàn, ông chợt nẩy ra ý nghĩ lạ lùng: “Nghe nói Bồ tát Quan Thế Âm phi thường linh ứng, chẳng biết điều này có thực chăng? Nếu như có thực, thì hôm nay xin Bồ tát hãy hiển linh. Cho tôi trông thấy rõ ràng thì tôi mới tin!”

Ông khấn xong, tự ngẫm nghĩ rồi tủm tỉm cười rồi về giường ngủ tiếp. Đang mơ mơ màng màng, đột nhiên ông thấy tượng Bồ tát Quan Âm phóng quang, ánh sáng màu vàng rực nhưng tỏa chiếu rất ôn nhu, dễ chịu khôn cùng. Ông giật mình bừng tỉnh, thì không thấy Bồ tát phóng quang nữa. Nhưng hễ nhắm mắt lại, thì thấy Bồ tát lại phóng quang. Ông bắt đầu nghi ngờ: “Chắc tại mình uống nhiều rượu quá nên sinh ảo giác đó thôi!” Nhưng rõ ràng tượng Bồ tát đang cười tủm tỉm, ông nhìn thấy mặt mày, ánh mắt Ngài rất rõ. 

Tờ mờ sáng hôm sau ông vội ra ngoài để tìm hiểu những gì liên quan đến Phật giáo. Sau khi hỏi bạn, biết gần đấy có chùa Kim Lăng, ông lập tức đến đó.

Đây là lần đầu ông đến chùa, ông đi vòng quanh và xá chào trước mỗi điện, nhưng không thấy có gì thần kỳ linh ứng. Nhìn thấy mớ sách Phật pháp nhiệm mầu và báo ứng nhân quả, ông liền thỉnh mấy cuốn đem về nhà xem. Lần đầu tiên tiếp xúc với đạo, ông càng xem càng ưa, càng xem càng sợ.

Chạm vào đường đạo

Ông nghĩ mình trước nay làm toàn việc xấu, lòng bắt đầu hối hận hoảng sợ. Nhờ đọc các chuyện nhân quả báo ứng, ông hiểu ra tất cả ác nghiệp mình tạo đều là tội đáng đọa địa ngục.

Xem xong mấy cuốn thiện thư, Ông suy ngẫm nhiều nên trong lòng phát sinh thay đổi. Kể từ đó ông tu sửa rất nhiều, hành sự không còn hung hăng dữ tợn nữa. Nhưng là dân trong giới giang hồ, mọi sự chẳng do mình tự quyết. Ông phải thường tham dự việc của hắc đảng, chỉ là từ đó về sau ông có niệm Phật, bái Phật.

Kế đến, ông còn thỉnh một bức hình “Quan Âm cưỡi trên con rồng đen” về treo trên vách phòng khách. Cho đến một đêm thu năm 2008.

Tối đó chừng tám giờ ông về nhà, vừa bước vào thì thấy Bồ Tát Quán Thế Âm bước ra, đứng trên không nhìn xuống. Mã huynh hết hồn, vội quỳ xuống, vừa dập đầu như tế sao vừa lớn tiếng réo gọi vợ ra xem. Lúc vợ ông chạy ra thì không thấy gì, ông ngẩng đầu lên thấy Bồ tát trên không cũng biến mất.

Lần này ông hết sức tỉnh táo, tận mắt nhìn thấy Bồ Tát Quán Âm nên nghi tâm không còn. Ngay đó ông liền phát thệ trước Bồ Tát: “Từ đây con quyết sửa lỗi, dứt khoát rời khỏi giang hồ, một lòng hướng thiện, nguyện làm lại cuộc đời!”

Buông dao hồi đầu

Ngày hôm sau ông triệu tập thuộc hạ tuyên bố giải tán, lại tha thiết khuyên họ từ bỏ việc xấu và giải thích: “Thiện ác có báo ứng, nhân quả không dối, gieo gì gặt đó, đừng để ác báo trổ rồi hối không kịp”.

Buông bỏ dễ, làm lại rất khó. Mã huynh vốn tính hào sảng, trọng nghĩa khí. Hồi trước thuở còn cầm đầu hắc đảng, hễ tay này thu, thì tay kia chi ra, nên không dành dụm được bao nhiêu? Chẳng mấy chốc ông đã lâm vào cảnh phải tìm kế sống. Trước tiên thì vay mượn người, sau đó thì cũng tìm được việc trong một hãng xưởng nọ.

Bắt đầu đi làm, lương thấp, lại phải lao lực, hoàn cảnh công tác mọi thứ cực tệ: Phải làm, nghỉ, đúng giờ, chịu đủ luật lệ gò bó. Chưa kể còn phải nhìn mặt thượng cấp mà sống, mà hành xử. Tình cảnh này so với thời ông hét ra lửa, nắm quyền uy, vào ra luôn được anh em cúi đầu vâng dạ, đúng là cách xa trời vực.

Chuyển nghiệp

Cứ thế, suốt thời gian dài Mã huynh chịu đựng, luôn đi làm sớm và về thật muộn. Bởi ông sợ lỡ đi đường mà gặp người quen sẽ bị họ cười chê. Khi đến xưởng thì ông vừa làm vừa trì chú Chuẩn đề, chẳng giao tiếp với ai. Lúc về nhà thì thời gian đều dành cho việc lạy sám hối trước tượng Bồ tát Quan Âm. Ông sám hối tất cả ác hạnh xưa kia, cầu Bồ tát khoan thứ gia hộ.

Như thế được hơn nửa năm, ông mới bắt đầu giao lưu cùng đám thợ, nhưng hễ trò chuyện là ông khuyên người hướng thiện, tin nhân quả. Sau này nhờ ông cảm hóa mà trong xưởng có được hơn 70 người tin Phật thờ Phật.

Một năm sau, lãnh đạo xưởng cho ông thuyên chuyển đến chỗ khác làm việc. Công tác nơi đây thanh nhàn, mấy ngày không làm cũng chẳng ai đến hỏi, lương cũng cao hơn. Mã huynh hiểu rõ đây là Bồ tát Quán Thế Âm che chở, ngầm giúp ông có điều kiện để tu hành tốt hơn. Vì vậy ông càng thêm tinh tấn.

 Khai mở trí huệ thần thông
TAMLINHVIET


Chùa Hoa Nghiêm mỗi năm thường tổ chức đả Thiền thất, chỉ cần lúc rảnh không làm việc thì ông đến tham gia, hành trì không chút giải đãi.

Lúc này ông đã phát Thiên nhãn thông, nhìn thấu suốt rõ ràng. Trong thời gian tham dự Thiền thất, ông thường thấy Thiền đường biến thành một ao sen cực lớn. Trên không có rồng vàng bay lượn, có lúc còn xuất hiện Thiên nữ đến đạo tràng, rải hoa Mạn đà la cúng dường. 

Có lúc ông nhìn thấu xuống địa ngục, thấy vua Diêm La vừa mập vừa thấp, hai quỷ vô thường hắc bạch thì ốm, cao. Có lúc không nhịn được, ông đem những điều mình thấy hỏi thầy trụ trì Thường Tịnh, sư phụ luôn nhắc ông:

– Phật pháp nhiệm mầu vô cùng, nhưng “Phàm những gì có hình tướng đều là hư giả”. Cảnh lạ dù có hiện rồi cũng hóa thành không, chớ nên chấp trước vào đó, nếu không sẽ bị lạc tà.

Do ông có túc duyên rất sâu, khả năng thần thông càng tu càng phát mạnh. Sư phụ sợ ông chấp trước sẽ bị lạc ma cảnh, nên kể cho ông nghe rất nhiều chuyện người ta vì mê chấp, tham cầu thần thông, mà bị tầu hỏa nhập ma.

Phát đại nguyện

Tham dự Thiền thất xong, ông nhận thấy thời mạt pháp “đạo yếu ma mạnh”. Đám ngoại đạo thiên ma, yêu tà, quỷ mỵ tàn hại người bừa bãi. Người tu nếu thiếu chút cảnh giác không cẩn thận, thì sẽ bị rơi vào cảnh quỷ ngay! Do vậy ông liền phát đại nguyện: “Cả đời con xin dâng hết cho việc hộ trì chánh pháp, hộ trì người tu!”

Phát nguyện xong, ông đến Phật Sơn Cổ Tự ở Tứ Xuyên, Bành Châu, bái kiến hòa thượng Quảng Ngộ, học pháp “Uế Tích Kim cang”. Pháp “Uế Tích Kim cang” thuộc Mật tông đời Đường, thuộc dạng giáo ngoại biệt truyền như Thiền tông. Đây là pháp môn phương tiện Phật Thích Ca đặc biệt khai mở, thuộc về biệt mật. “Uế Tích Kim cang” được hóa thân Phật Thích Ca tuyên thuyết, lúc Ngài thị hiện nhập niết bàn.

Pháp này không sợ ô uế, cho nên gọi “Uế Tích Kim cang”. Dùng đại thần lực hàng phục quỷ đạo, hộ trì người tu hành, còn có tên là “Đại Quyền Thần Vương Phật”.

Nhập thất 

Đầu năm 2009, một tu sĩ tới tìm Mã sư huynh, lễ  Phật xong thầy liền nói: Quả là Bồ tát Quán Thế Âm hiện hữu nơi Phật đường nhà ông!

Sau khi chủ và khách đều yên vị, thầy Minh Đăng bảo: Mấy ngày trước thầy mộng thấy Bồ tát Quán Âm nói rằng: Hiện có hai vị cư sĩ đang cần bế quan, bảo thầy hãy nên tìm đến hộ thất giúp đỡ. Ngài cho biết tính danh và địa chỉ hai người này. Một người ở Tế Nam là nữ, còn một người chính là Mã huynh!

Thầy Minh Đăng gọi điện dặn dò cho vị sư huynh ở Tế Nam lo liệu các việc cần, rồi dẫn Mã huynh đến khu Thiền thất đặc biệt dành riêng cho người bế quan chuyên tu.

Mã huynh nhập thất đến ngày thứ hai, trong định thấy đích thân tôn giả Mật tông (Stongkhapa) hiện ra, bảo:

– Ngôi thất này là đất thành Phật, nhất định ông phải tu cho tốt.

Mã huynh cảm thấy được khích lệ rất lớn, liền phát nguyện: Con nhất quyết tu cho đến khi đạt chánh định vô thượng.

Đại triệt đại ngộ

Nhập thất đến ngày 21, các chủng tử xa xưa và túc nghiệp hiện hành. Đủ loại ma cảnh tranh nhau kéo đến, khiến phiền não bùng khởi, làm Mã huynh suýt phát cuồng.



Post a Comment

Mới hơn Cũ hơn